Bột đá: Đặc tính và ứng dụng tại Việt Nam và xuất khẩu

Bột đá là nguyên liệu được sử dụng nhiều trên trên thế giới chỉ sau không khí và nước có thành phần chủ yếu là đá nghiền mịn được xử lý bằng phương pháp tự nhiên hoặc cơ học. Công thức hóa học là CaCO3, các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 5% vỏ Trái Đất là canxi cacbonat. Bột đá thường được tìm thấy ở vỏ sò, ốc, núi lửa và từ các sông băng tự nhiên.

Bột đá và ứng dụng

Nhờ các đặc tính đặc biệt cho phép ứng dụng rộng trong công nghiệp sản xuất, nông nghiệp. Đối với ngành công nghiệp sản xuất bột đá được ứng dụng như:

Ngành xây dựng

Ứng dụng bột đá trong bê tông nhựa alphalt, đá hạt dùng sản xuất gạch terrazoo và mài granito…

Nhà máy sản xuất bột đá

Sản xuất giấy

Sản xuất giấy sử dụng công nghệ cũ thường dùng 2 chất độn là đát sét và cao lanh để làm trắng giấy tuy nhiên đây là hai loại khoáng sản hiếm trong tự nhiên vì vậy dẫn đến chi phí sản xuất cao. Vì vậy, bột đá được sử dụng để thay thế 2 chất trên bởi giá thành rẻ và làm giấy trắng hơn nên bột đá chiếm ưu thế.

Chất tẩy rửa

Trên thị trường sản xuất các chất tẩy rửa có hai dạng chính là: dạng kem và dạng bột. Bột đá sẽ giúp các khoáng chất mịn hơn, trơn hơn đồng thời trắng sáng hơn. Bột đá độ cứng của nó thấp hơn một số dạng vật chất khác, chỉ có 3 Moh của độ cứng khoáng sản dẫn đến tủy tinh, gấm sứ, men, đồng, sắt, thép v..v có tác dụng vừa phải trên kim loại mềm như nhôm và đồng

Gốm sứ kính

Trong các ứng dụng gốm sứ / kính, bột đá CaCO3 được biết đến như Whiting, và là một thành phần phổ biến trong nhiều men ở dạng bột màu trắng của nó. Khi men có chứa chất này bị sa thải trong lò, các Whiting hoạt động như một chất dễ chẩy trong men

Chất tẩy rửa

Đất bột đá CaCO3 là một mài mòn (cả hai như cọ rửa bột và là một thành phần của các loại kem tẩy rửa gia dụng), đặc biệt ở dạng canxit của nó, trong đó có độ cứng tương đối thấp của 3 trên thang Mohs của độ cứng khoáng sản, và do đó sẽ không đầu thủy tinh và gốm sứ khác nhất, men, đồng, sắt, thép, và có tác dụng vừa phải trên các kim loại mềm như nhôm và đồng.

Chất kết dính

Bột đá CaCO3 được dùng làm chất kết dính, chất bịt kín, và chất độn trang trí. chất kết dính gạch gốm thường chứa 70-80% đá vôi. Trang trí chất độn nứt chứa hàm lượng tương tự như đá cẩm thạch hoặc dolomite. Nó cũng được trộn với putty trong việc thiết lập các cửa sổ kính màu, và như là một chống để ngăn chặn kính bị dính vào kệ lò khi bắn men và sơn ở nhiệt độ cao.

Nông nghiệp

Ngành nông nghiệp bột đá không sử dụng để thay thế cho phân bón vì hàm lượng phốt pho, kali và nitơ. Tùy từng loại bột đá khác nhau và nguồn gốc khác nhau ví dụ như đá vôi hàm vi – khoáng chất thấp, đá bazan và granit có hàm lượng khoáng cao, điều nay giúp tăng độ màu mỡ của đất để cải tạo những vùng bị bạc màu. Giảm độ chua trong đất, giảm độc hại của các chất như Cu, Mn Fe và Ai.

Chăn nuôi

Bôt đá chứa canxi được xem như là một chất phụ gia trong thức ăn nhằm giúp gia súc, gia cầm phát triển hệ xương.

Dây chuyên sản xuất bột đá

Các mỏ đá để sử dụng khai thác đá chủ yếu tập trung ở miền Bắc và miền Trung. Sản xuất bột đá gồm các bước như sau đá khai thác từ mỏ, sàng lọc đủ tiêu chuẩn sẽ được vận chuyển về nhà máy sau đó sẽ được đưa vào máy nghiền đá với chu trình khép kín cộng với thiết bị phân li để điều chỉnh cỡ hạt của sản phẩm. Tiếp đến bột đá sẽ được đưa đến silo chứa phun axit béo hoặc không phun axit béo cuối cùng tiến hành phối trộn và đóng bao. Hiện nay ở Việt Nam với chu trình như thế này thường được sử dụng ở những công ty có quy mô lớn và đặc biệt là mỏ đá ở Hà Nam với trữ lượng với và có hàm lượng CaCO3 lên đến 96%, điều này tạo cho sản phẩm của bột đá Hà Nam được ưa chuộng trên thị trường. Với tính ứng dụng rộng rãi của bột đá được phân chia như sau, bột đá CaCO3 chủ yếu từ đá trắng, bột đá thạch anh, bột đá vôi.

Dây chuyền sản xuất bột đá

 

Bột đá trắng làm từ loại đá trắng khai thác ở các mỏ đá cùng loại.

Bột đá thạch anh còn gọi là bột silica hay bột SiO2.

Là một thành phần có tính ứng dụng cao, mỗi loại ứng dụng sẽ sử dụng các loại bột đá khác nhau. Mặc dù hầu hết, bột đá trắng là sản phẩm có tính ứng dụng cao nhất so với các sản phẩm. Việc khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản phẩm đá xây dựng. Trong tình việc khai khác khoáng sản đá xây dựng ngày càng thắt chặt các nhà sản xuất phải chú ý đến một số tiêu chuẩn được liệt kê dưới đây dựa theo Luật khoáng sản năm 2010.

Đá cát kết, đá quarzit có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam;

Đá trầm tích các loại (trừ diatomit, bentonit, đá chứa keramzit), đá magma (trừ đá syenit nephelin, bazan dạng cột hoặc dạng bọt), đá biến chất (trừ đá phiến mica giàu vermiculit) không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, đá quý, đá bán quý và các nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ, nguyên liệu kỹ thuật felspat sản xuất sản phẩm gốm xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam

Sản xuất bột đá

Đá phiến các loại, trừ đá phiến lợp, đá phiến cháy và đá phiến có chứa khoáng vật serixit, disten hoặc silimanit có hàm lượng lớn hơn 30%;

Cuội, sỏi, sạn không chứa vàng, platin, đá quý và đá bán quý; đá ong không chứa kim loại tự sinh hoặc khoáng vật kim loại;

Đá vôi, sét vôi, đá hoa (trừ nhũ đá vôi, đá vôi trắng và đá hoa trắng) không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất xi măng pooc lăng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam;

Đá dolomit có hàm lượng MgO nhỏ hơn 15%, đá dolomit không đủ tiêu chuẩn sản xuất thủy tinh xây dựng, làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam.

Hiện nay trên thị trường giá dao động khoảng từ 1.000.000 đồng/tấn cho đến 1.300.000 đđồng/tấn (tùy thuộc vào chủng loại và kích thước sản phẩm). Tuy nhiên thị trường bột đá Việt Nam đang gặp những khó khăn nhất định. Mức thuế được áp dụng cho bột đá xuất khẩu khiến doanh nghiệp sản xuất bột đá khó cạnh tranh được với hàng xuất khẩu của nước ngoài mặc dù bột đá trắng hay bột đá siêu mịn của Việt Nam có chất lượng tốt ví như bột đá hà nam bởi hàm lượng CaCO3 cao.  Ảnh hưởng từ mức thuế ví dụ như bột đá siêu mịn mức thuế áp cho bột đá siêu mịn tráng phủ axit béo là 0% nhưng không tráng phủ axit béo là 10%. Bên cạnh đó hàng loạt các chi phí đầu vào cũng tăng cùng với việc khai thác khoáng sản đang ngày càng trở nên khó khăn. Điều này dẫn đến giá bột đá ở thị trường Việt Nam cao hơn so với các bột đá đến từ thị trường Trung Quốc, Thái Lan hay Malaysia. Dẫn đén yếu tố doanh nghiệp một là phải chịu lỗ khi xuất khẩu hai là doanh nghiệp bán trong nước nhưng bị chèn ép giá.

Nhìn chung, bột đá có giá thành rẻ và đặc tính linh hoạt giúp sản phẩm được ứng dụng rộng rãi từ nông nghiệp đến công nghiệp. Tuy nhiên thị trường bột đá ngoài tính cạnh tranh cao thì cũng có những rủi ro nhất định.